Tập luyện để phòng và điều trị ung thư

25/07/2017 | 12:00

Tập luyện rất tốt cho sức khỏe, nó giúp bạn phòng tránh được nhiều loại bệnh nguy hiểm, trong đó có ung thư. Đặc biệt, tập luyện cũng góp phần cải thiện cả về thể trạng lẫn tâm lý cho người bệnh ung thư.

Hiện nay, với sự phát triển của y học hiện đại cũng như các biện pháp điều trị tiên tiến, hi vọng sống và thời gian sống của bệnh nhân ung thư đã được nâng lên. Bên cạnh đó, thể trạng và tâm lý của bệnh nhân cũng được cải thiện đáng kể, giúp ích rất nhiều cho việc điều trị.

Mặc dù vậy, bệnh nhân ung thư thường có tâm lý không ổn định, thường xuyên lo lắng, chán nản, thậm chí là buông xuôi. Thêm vào đó, tác dụng phụ của các liệu pháp điều trị như hóa chất, xạ trị lâu dài khiến thể trạng bệnh nhân không tốt, mệt mỏi, chán ăn. Để khắc phục tình trạng này, ngoài việc cần đảm bảo chế độ ăn uống hợp lý để đương đầu với bệnh tật, người bệnh cần thường xuyên vận động, chú ý hoạt động thể lực để nâng cao thể trạng.

Tập luyện giúp phòng và hỗ trợ điều trị ung thư

Có nhiều trường hợp bệnh nhân nghĩ rằng mắc bệnh ung thư cần được nghỉ ngơi, ít vận động nhưng thực tế chính vì không hoặc ít hoạt động thể lực mà thực tế rất nhiều bệnh nhân buộc phải ngưng điều trị do thể trạng suy kiệt.

Mặt khác, nhiều nghiên cứu chỉ ra mối tương quan giữa lối sống tĩnh tại, thừa cân – béo phì với các bệnh lý ung thư khác nhau,  đây là nguyên nhân của 1/4 các trường hợp mới mắc ung thư trên toàn thế giới.

Như vậy, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tác dụng của hoạt động thể lực không chỉ trong bảo vệ phòng chống một số bệnh ung thư mà còn có hiệu quả trong phối hợp điều trị và chăm sóc phục hồi bệnh.

Tác dụng của hoạt động thể lực hợp lý với sức khỏe người bệnh thể hiện ở tác động tích cực đến nhiều cơ chế sinh học ảnh hưởng đến sự phát triển và nguy cơ tái phát  bệnh ung thư thông qua các cơ quan khác nhau trong cơ thể như các chức năng hô hấp, tiêu hóa, chuyển hóa, tình trạng miễn dịch, hormon, cân bằng năng lượng... Ít hoạt động thể lực dẫn tới giảm sức vóc, kém linh hoạt, tăng cân không có lợi, cũng như các rối loạn khác trong cơ thể.

Lợi ích của hoạt động tập luyện thể lực

Hô hấp: Tăng trao đổi khí, giảm thể tích cặn tồn dư, nhờ đó làm giảm thời gian tế bào phổi tiếp xúc với các chất độc hại.

Tuần hoàn: Cải thiện lưu lượng máu toàn thân và tại chỗ, nhất là hệ thống cơ, cải thiện chức năng tim mạch, vận động, dự phòng huyết khối.

Tiêu hóa: Hoạt động thể lực tiêu hao năng lượng, vì vậy gián tiếp kích thích hệ tiêu hóa tăng cường chức năng, rút ngắn thời gian vận chuyển thức ăn qua dạ dày-ruột.

Hệ cơ xương khớp: Tăng cường sức mạnh, sự dẻo dai, sự cân bằng, linh hoạt của cơ khớp, giúp người bệnh tự chủ trong các hoạt động, sinh hoạt cá nhân, giảm phụ thuộc vào sự trợ giúp của người khác.

Chuyển hóa năng lượng: Tăng cường chuyển hóa, cân bằng năng lượng, giảm mô mỡ dự trữ, duy trì cân nặng hợp lý.

Hormon/các chất nội tiết: Hoạt động thể lực tác động khác nhau đến các hormon sinh dục, insulin có tác dụng giảm nguy cơ ung thư vú, tử cung, buồng trứng, tuyến tiền liệt, đại tràng.

Chức năng miễn dịch: Những người mắc các bệnh miễn dịch di truyền hoặc thiếu hụt miễn dịch bẩm sinh có nguy cơ cao bị ung thư, hoạt động thể lực cải thiện chất lượng và số lượng các thành phần đặc hiệu trong hệ miễn dịch.

Tinh thần: Tăng cường giải phóng các endorphin nội sinh, giúp giảm đau, tăng hưng phấn thần kinh, sự tự tin, giảm suy nghĩ tiêu cực, lo lắng, trầm cảm. Cải thiện khả năng tự kiểm soát, giảm phụ thuộc, cải thiện chất lượng cuộc sống.

Các tác dụng khác: Giảm mệt mỏi, giảm triệu chứng buồn nôn, nôn do bệnh lý hay do tác dụng phụ của liệu pháp điều trị.

Cần tập luyện điều độ, tránh quá sức

Những lưu ý khi luyện tập

Bạn có thể luyện tập hàng ngày nếu có thể. Tùy thuộc vào khả năng của từng cá nhân và cố gắng thực hiện tập từ đơn giản đến khó dần, từ cường độ thấp đến vừa và tới cao. Nếu cảm thấy quá mệt mỏi sau khi luyện tập thì nên giảm cường độ tập xuống.

Thời gian luyện tập nên điều chỉnh theo tình trạng bệnh, sức khỏe bệnh nhân, tuổi, tiền sử tập luyện trước đó. Thời gian tập luyện  tối thiểu là từ 10-15 phút, trong trường hợp không đau, không khó thở khuyến cáo nên tập từ 30-60 phút. Nên luyện tập sau bữa sáng khoảng 1,5 giờ, sau giấc ngủ trưa là tốt nhất. Không nên tập khi đói, quá gần giờ đi ngủ. Bệnh nhân đang mắc bệnh và điều trị cần phối hợp với bác sĩ điều trị và chuyên gia vật lý trị liệu để điều chỉnh hoạt động thể lực cho phù hợp.

Đối với những bệnh nhân ung thư máu, ung thư phổi, những người suy nhược có số lượng hồng cầu, nồng độ hemoglobin máu thấp, do nhu cầu oxy cao khi hoạt động thể lực, nên cân nhắc loại hình vận động thích hợp như các bài tập thở, các bài tập yoga ít đòi hỏi vận dụng cơ lớn. Đề phòng nguy cơ nhiễm khuẩn đối với những người có số lượng bạch cầu thấp, nguy cơ va chạm chảy máu với những trường hợp có số lượng tiểu cầu thấp.

Cần tập luyện ở nơi đảm bảo vệ sinh, không khí trong lành, thoáng mát. Những người bị suy giảm miễn dịch, có lở loét ở da nên tránh tập luyện dưới nước.

Những bằng chứng qua các nghiên cứu đến nay cho thấy, các hoạt động thông thường tại nhà, nơi làm việc, hoặc tập luyện đều đặn các môn thể thao tùy theo tần suất, cường độ và thời gian hoạt động có thể làm giảm 20-60% nguy cơ ung thư đại tràng, 30-50% nguy cơ ung thư vú, cũng như có tác dụng với các nguy cơ ung thư cổ tử cung, phổi, tuyến tiền liệt. Mặt khác, đối với những người bệnh ung thư, hoạt động thể lực phù hợp không những không gây mệt mỏi mà còn giúp tăng cường thể chất, cải thiện cơ lực, sức vóc, khả năng dung nạp thuốc, giảm được các triệu chứng của bệnh/tác dụng phụ của liệu pháp điều trị và tăng cơ hội phục hồi, giảm nguy cơ tái phát, giúp người bệnh thoải mái, tự tin và thêm yêu cuộc sống.

Hạ Nhi (TH)